Cơ bản
Giao ngay
Giao dịch tiền điện tử một cách tự do
Giao dịch ký quỹ
Tăng lợi nhuận của bạn với đòn bẩy
Chuyển đổi và Đầu tư định kỳ
0 Fees
Giao dịch bất kể khối lượng không mất phí không trượt giá
ETF
Sản phẩm ETF có thuộc tính đòn bẩy giao dịch giao ngay không cần vay không cháy tải khoản
Giao dịch trước giờ mở cửa
Giao dịch token mới trước niêm yết
Futures
Truy cập hàng trăm hợp đồng vĩnh cửu
TradFi
Vàng
Một nền tảng cho tài sản truyền thống
Quyền chọn
Hot
Giao dịch với các quyền chọn kiểu Châu Âu
Tài khoản hợp nhất
Tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn của bạn
Giao dịch demo
Giới thiệu về Giao dịch hợp đồng tương lai
Nắm vững kỹ năng giao dịch hợp đồng từ đầu
Sự kiện tương lai
Tham gia sự kiện để nhận phần thưởng
Giao dịch demo
Sử dụng tiền ảo để trải nghiệm giao dịch không rủi ro
Launch
CandyDrop
Sưu tập kẹo để kiếm airdrop
Launchpool
Thế chấp nhanh, kiếm token mới tiềm năng
HODLer Airdrop
Nắm giữ GT và nhận được airdrop lớn miễn phí
Launchpad
Đăng ký sớm dự án token lớn tiếp theo
Điểm Alpha
Giao dịch trên chuỗi và nhận airdrop
Điểm Futures
Kiếm điểm futures và nhận phần thưởng airdrop
Đầu tư
Simple Earn
Kiếm lãi từ các token nhàn rỗi
Đầu tư tự động
Đầu tư tự động một cách thường xuyên.
Sản phẩm tiền kép
Kiếm lợi nhuận từ biến động thị trường
Soft Staking
Kiếm phần thưởng với staking linh hoạt
Vay Crypto
0 Fees
Thế chấp một loại tiền điện tử để vay một loại khác
Trung tâm cho vay
Trung tâm cho vay một cửa
CITIC Securities | Tổng dư nợ cho vay xã hội tăng so với cùng kỳ, tốc độ tăng M1 phục hồi theo tháng
Bài viết | Ma Kunpeng, Li Chen, Wang Xinyu
Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh phát huy vai trò dẫn dắt, trong phạm vi tín dụng xã hội và các hình thức tài chính ngoài bảng cân đối đang phục hồi, tổng dư nợ xã hội tăng so với cùng kỳ, phù hợp với dự đoán. Trong tháng 2, việc phát hành tín dụng doanh nghiệp có sự cải thiện về biên độ, cấu trúc tín dụng doanh nghiệp cũng được tối ưu hóa. Do ảnh hưởng của lệch kỳ Tết Nguyên đán, tín dụng bán lẻ vẫn còn trì trệ, kỳ vọng vào việc phục hồi kinh tế vĩ mô và phối hợp chính sách để thúc đẩy nhu cầu tăng lên. Tốc độ tăng M1 so với tháng trước đã phục hồi, tốc độ tăng M2 duy trì ở mức cao ổn định, chênh lệch giữa M2 và M1 thu hẹp còn 3,1%. Năm 2026, duy trì tinh thần chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ tương đối nới lỏng, nợ chính phủ vẫn sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xã hội. Dự kiến tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm 2026 sẽ duy trì khoảng 7-8%, thực chất cải thiện của các ngân hàng vẫn cần chờ đợi sự cải thiện hơn nữa của nhu cầu tín dụng và kỳ vọng kinh tế.
Vào ngày 13 tháng 3, Ngân hàng Trung ương công bố số liệu tài chính tháng 2 năm 2026. Trong đó, tổng dư nợ xã hội mới phát sinh trong tháng 2 là 2,38 nghìn tỷ nhân dân tệ, tăng 0,15 nghìn tỷ so với cùng kỳ, tốc độ tăng dư nợ xã hội tồn đọng là 8,2%, giữ nguyên so với tháng trước. Tín dụng bằng nhân dân tệ mới phát sinh là 0,90 nghìn tỷ, giảm 0,11 nghìn tỷ so với cùng kỳ. Tốc độ tăng M1 là 5,9%, tăng 1,0 điểm phần trăm so với quý trước; tốc độ tăng M2 là 9,0%, giữ nguyên so với tháng trước.
Giai đoạn hóa giải nợ đã gần kết thúc, trong phạm vi tín dụng xã hội, tín dụng mới phát sinh so với cùng kỳ vẫn tăng. Trong tháng 2, tín dụng bằng nhân dân tệ mới phát sinh là 848,4 tỷ nhân dân tệ, tăng 195,6 tỷ so với cùng kỳ, khi quá trình hóa giải nợ gần như kết thúc, cộng thêm các dự trữ dự án của ngân hàng đủ lớn, tín dụng trong phạm vi tín dụng xã hội có sự cải thiện biên độ. Nhìn về toàn bộ năm, Ngân hàng Trung ương đề cập tại hội nghị công tác năm 2026 rằng “cần tăng cường hỗ trợ tài chính cho các lĩnh vực trọng điểm như mở rộng nội địa, đổi mới công nghệ, doanh nghiệp vừa và nhỏ”, dự kiến tín dụng tăng trong năm 2026 sẽ cơ bản tương đương năm 2025, tốc độ tăng tín dụng có thể duy trì khoảng 7-8%. Về nhịp độ, có khả năng năm 2026 sẽ duy trì mô hình “4-3-2-1” trong phát hành tín dụng.
Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh phát huy vai trò dẫn dắt, nhưng do mức nền cao, so với cùng kỳ có ít tăng hơn, trong tinh thần chính sách tài chính tích cực, nợ chính phủ vẫn sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng dư nợ xã hội năm 2026: (1) Trong tháng 2, nợ chính phủ mới phát sinh là 1,4 nghìn tỷ nhân dân tệ, giảm 290,3 tỷ so với cùng kỳ. Nợ địa phương mới phát sinh trong tháng 12 là 634,2 tỷ, tăng 208,5 tỷ so với cùng kỳ; nợ đặc thù mới phát sinh là 484,6 tỷ, tăng 148,2 tỷ. Từ đầu năm đến nay, định hướng chính sách tài chính vẫn rất tích cực, trái phiếu chính phủ và trái phiếu đặc thù vẫn duy trì tốc độ phát hành nhanh, hỗ trợ mạnh mẽ cho tăng trưởng dư nợ xã hội. Về tái cấp vốn, trong tháng 2, quy mô tái cấp vốn của nợ địa phương và nợ đặc thù lần lượt là 491,0 tỷ và 425,9 tỷ, giảm lần lượt 216,2 tỷ và 268,7 tỷ so với cùng kỳ. Ngân hàng Trung ương tại hội nghị công tác năm 2026 và các cuộc họp gần đây với các chuyên gia tài chính đều nhấn mạnh “tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ phù hợp, tăng cường điều chỉnh theo chu kỳ và chống chu kỳ, tạo môi trường tài chính tiền tệ phù hợp để duy trì sự phát triển tích cực của nền kinh tế”, xác định tổng thể chính sách cho cả năm. Nhìn về toàn bộ năm, dự kiến mức độ hỗ trợ tài chính sẽ tiếp tục duy trì mạnh mẽ, nợ chính phủ vẫn sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng dư nợ xã hội năm 2026. (2) Trong tháng 2, hình thức tài chính ngoài bảng giảm 162,7 tỷ nhân dân tệ, giảm 191,8 tỷ so với cùng kỳ, trong đó cho vay ủy thác giảm 18,1 tỷ, giảm 4,7 tỷ so với cùng kỳ; tín dụng ủy thác tăng 30,9 tỷ, tăng 63,9 tỷ so với cùng kỳ; chưa chiết khấu chứng từ giảm 175,5 tỷ, giảm 123,2 tỷ. (3) Trong tháng 2, quy mô huy động trực tiếp mới tăng 197,5 tỷ nhân dân tệ, tăng 19,7 tỷ so với cùng kỳ, trong đó trái phiếu doanh nghiệp mới phát sinh là 152,1 tỷ, giảm 18,1 tỷ so với cùng kỳ; huy động cổ phiếu mới là 45,4 tỷ, tăng 37,8 tỷ.
Trong tháng 2, tín dụng ngắn hạn và trung dài hạn của doanh nghiệp có sự cải thiện biên, hiệu quả mở rộng của ngân hàng khá tốt. Quy mô chứng khoán giảm, cấu trúc tín dụng doanh nghiệp được tối ưu hóa. Trong tháng 2, tín dụng ngắn hạn của doanh nghiệp mới tăng 600 tỷ, tăng 2.7 nghìn tỷ; tín dụng trung dài hạn của doanh nghiệp mới tăng 890 tỷ, tăng 3.5 nghìn tỷ. Chứng khoán giảm 35 tỷ, giảm 2.043 tỷ so với cùng kỳ, quy mô chứng khoán rõ ràng giảm mạnh, cấu trúc tín dụng doanh nghiệp được tối ưu hóa, tập trung hỗ trợ nền kinh tế thực thể. Tín dụng trung dài hạn tăng so với cùng kỳ, dự kiến là do các dự án lớn bắt đầu triển khai vào đầu năm, cộng thêm quá trình hóa giải nợ gần như kết thúc, quy mô thay thế nợ tồn đọng bằng trái phiếu đặc thù giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Trong thời gian tới, các chính sách như “chống cạnh tranh nội bộ”, cải thiện môi trường phát triển doanh nghiệp tư nhân liên tục được ban hành và thực thi, cùng với chính sách tài chính tích cực “từ trên xuống” + các chính sách thúc đẩy tiêu dùng, kích thích nội địa “từ dưới lên”, kỳ vọng sẽ thúc đẩy năng lực hoạt động của các doanh nghiệp trung và hạ lưu chuỗi ngành, nâng cao niềm tin doanh nhân, từ đó dần thúc đẩy nhu cầu tín dụng phục hồi. Năm 2026, vẫn duy trì tinh thần chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ tương đối nới lỏng, dự kiến tín dụng doanh nghiệp sẽ ít nhất duy trì ổn định.
Do ảnh hưởng của lệch kỳ Tết Nguyên đán, tín dụng bán lẻ vẫn còn trì trệ, kỳ vọng vào việc phục hồi kinh tế vĩ mô và phối hợp chính sách để thúc đẩy nhu cầu tăng lên. Trong tháng 2, tín dụng bán lẻ ngắn hạn giảm 469,3 tỷ nhân dân tệ, giảm 195,2 tỷ so với cùng kỳ; tín dụng trung dài hạn giảm 181,5 tỷ, giảm 66,5 tỷ so với cùng kỳ. Do ảnh hưởng của lệch kỳ Tết, nhu cầu vay tiêu dùng và mua nhà của người dân tháng 2 đều giảm. Ngoài ra, về tín dụng trung dài hạn, mặc dù việc điều chỉnh chính sách hạn chế mua nhà tại các thành phố cấp 1 đã thúc đẩy diện tích giao dịch tạm thời tăng cao, nhưng sau khi các yếu tố đột xuất này giảm bớt, thị trường bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi rõ rệt, tâm lý “mua giá tăng, không mua giá giảm” của người dân khiến nhu cầu mua nhà còn thiếu hụt. Về tín dụng ngắn hạn, mặc dù các chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay tiêu dùng và kinh doanh đã được thực thi, nhưng trong môi trường phục hồi yếu ớt của kinh tế, do kỳ vọng thu nhập của người dân còn yếu và ý muốn chủ động tăng đòn bẩy còn hạn chế, tăng trưởng tín dụng vẫn gặp nhiều thách thức. Trong thời gian tới, cần kỳ vọng vào việc phục hồi nền tảng vĩ mô và phối hợp chính sách để thúc đẩy nhu cầu tín dụng bán lẻ phục hồi.
Tốc độ tăng M1 phục hồi, chênh lệch giữa M2 và M1 thu hẹp. Do ảnh hưởng của lệch kỳ Tết, cấu trúc tiền gửi phân hóa. Trong tháng 2, tốc độ tăng M1 là 5,9%, tăng 1,0 điểm phần trăm so với quý trước. Tốc độ tăng M2 giữ ở mức 9,0%, không đổi so với tháng trước, chênh lệch giữa M2 và M1 thu hẹp còn 3,1%. Trong đó, tốc độ tăng M1 có thể do trong kỳ nghỉ Tết, ý muốn tiêu dùng của người dân cao, thúc đẩy luân chuyển các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, từ đó đẩy nhanh M1. Tuy nhiên, sự hoạt động của dòng tiền này chủ yếu dựa vào tiêu hao tiền gửi, chứ không phải do tín dụng thúc đẩy. Qua số liệu tín dụng, ý muốn tăng đòn bẩy của người dân vẫn còn yếu, động lực tiêu dùng qua tín dụng còn thiếu, trong giai đoạn này, người dân có xu hướng sử dụng tiền gửi hơn là vay mượn để trang trải chi tiêu trong dịp lễ. Về tiền gửi, trong tháng 2, tiền gửi mới tăng 1,17 nghìn tỷ nhân dân tệ, giảm 3,25 nghìn tỷ so với cùng kỳ. Cấu trúc tăng trưởng của tiền gửi thể hiện rõ ràng: tiền gửi của người dân tăng 3,11 nghìn tỷ, cao hơn 2,5 nghìn tỷ so với cùng kỳ; tiền gửi của doanh nghiệp giảm 2,66 nghìn tỷ, giảm 1,76 nghìn tỷ so với cùng kỳ. Do lệch kỳ Tết, thời điểm phát thưởng cuối năm của doanh nghiệp muộn hơn so với năm ngoái, trong tháng 2, dòng tiền từ tài khoản doanh nghiệp chuyển sang tài khoản người dân rõ rệt, dẫn đến phân hóa rõ rệt giữa tiền gửi của người dân và doanh nghiệp. Tiền gửi của chính phủ giảm 350 tỷ, giảm 1,61 nghìn tỷ so với cùng kỳ. Tiền gửi của các tổ chức phi ngân hàng tăng 1,39 nghìn tỷ, giảm 1,44 nghìn tỷ so với cùng kỳ; trong tháng 2, do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài, thị trường vốn có biến động, cộng thêm việc cuối năm một số dòng tiền chảy vào “bảo toàn vốn”, mức độ chuyển tiền gửi đã giảm.
Quan điểm đầu tư: Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh phát huy vai trò dẫn dắt, trong phạm vi tín dụng xã hội và các hình thức tài chính ngoài bảng cân đối đang phục hồi, tổng dư nợ xã hội tăng so với cùng kỳ, phù hợp dự đoán. Trong tháng 2, phát hành tín dụng có sự phân hóa, trong đó tín dụng ngắn hạn và trung dài hạn của doanh nghiệp có sự cải thiện biên độ, quy mô chứng khoán giảm, cấu trúc tín dụng doanh nghiệp được tối ưu hóa. Do ảnh hưởng của lệch kỳ Tết, tín dụng bán lẻ vẫn còn trì trệ, kỳ vọng vào việc phục hồi kinh tế vĩ mô và phối hợp chính sách để thúc đẩy nhu cầu tăng lên. Tốc độ tăng M1 so với tháng trước đã tăng, tốc độ tăng M2 duy trì ở mức cao ổn định, chênh lệch giữa M2 và M1 thu hẹp còn 3,1%. Nhìn chung, trong dự báo cả năm, Ngân hàng Trung ương tại hội nghị công tác năm 2026 nhấn mạnh “tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ phù hợp, tăng cường điều chỉnh theo chu kỳ và chống chu kỳ, tạo môi trường tài chính tiền tệ phù hợp để duy trì sự phát triển tích cực của nền kinh tế”, xác định tổng thể chính sách cho cả năm. Trong năm, dự kiến mức độ hỗ trợ tài chính sẽ tiếp tục duy trì mạnh mẽ, nợ chính phủ vẫn sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng dư nợ xã hội. Giai đoạn hóa giải nợ đã gần kết thúc, ảnh hưởng đến tín dụng trung dài hạn đã giảm dần, dự kiến năm 2026, tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp sẽ ít nhất duy trì ổn định. Ngân hàng Trung ương đã hạ tỷ lệ vay mua nhà thương mại xuống còn 30%, đồng thời các chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay tiêu dùng và kinh doanh tiếp tục, phối hợp chính sách phục hồi kinh tế và thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng sẽ thúc đẩy nhu cầu tín dụng bán lẻ tăng trở lại. Dự kiến tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2026 vẫn sẽ duy trì khoảng 7-8%, thực chất cải thiện của các ngân hàng vẫn cần chờ đợi sự cải thiện hơn nữa của nhu cầu tín dụng và kỳ vọng kinh tế.
Về phân bổ ngành, hiện tại, trong bối cảnh hoạt động thực tế và kỳ vọng của ngành ngân hàng đã được củng cố thêm ở đáy, nhu cầu phân bổ dựa trên tư duy phòng thủ, độ an toàn cao, tỷ lệ thắng cao là chính, biên an toàn ngày càng nâng cao. Trước khi có điểm xoay chiều tích cực của kỳ vọng kinh tế, khó có thể toàn diện chuyển đổi sang các ngành chu kỳ thuận lợi. Tiếp tục ủng hộ chiến lược cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao, các quỹ dài hạn như quỹ bảo hiểm vẫn còn nhu cầu phân bổ dài hạn, trong nội bộ ngành có thể thường xuyên luân chuyển theo các yếu tố cơ bản ngắn hạn và tỷ lệ cổ tức so với giá.
(1) Tiến trình phục hồi kinh tế chưa đạt kỳ vọng, khả năng trả nợ của doanh nghiệp suy yếu, một số doanh nghiệp có năng lực tín dụng kém có thể đối mặt rủi ro vỡ nợ, từ đó gây ra rủi ro lộ nợ xấu của ngân hàng và giảm mạnh chất lượng tài sản. (2) Rủi ro tập trung trong các lĩnh vực trọng điểm như nợ bất động sản, các khoản vay của các nền tảng tài chính địa phương, gây tác động lớn đến chất lượng tài sản của ngân hàng, làm giảm đáng kể khả năng sinh lời của ngân hàng. (3) Chính sách nới lỏng tín dụng chưa đủ mạnh, sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp trong khu vực kinh doanh không bền vững, gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến việc phát hành tín dụng của các doanh nghiệp. (4) Hiệu quả chuyển đổi bán lẻ chưa đạt kỳ vọng, thị trường chứng khoán có biến động lớn, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý tài sản của các công ty.
Tên báo cáo nghiên cứu chứng khoán: “Tổng dư nợ xã hội tăng so với cùng kỳ, tốc độ tăng M1 so với tháng trước phục hồi — Đánh giá số liệu tài chính tháng 2 năm 2026”
Thời gian công bố: ngày 15 tháng 3 năm 2026
Cơ quan phát hành báo cáo: Công ty Chứng khoán CITIC Securities
Các nhà phân tích trong báo cáo:
Ma Kunpeng SAC số: S1440521060001
SFC số: BIZ759
Li Chen SAC số: S1440521060002
SFC số: BSJ178
Wang Xinyu SAC số: S1440525070014
Thông tin phong phú, phân tích chính xác, tất cả đều có trên Ứng dụng Sina Finance